Các yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là căn bệnh phổ biến và gây ra tử vong cao ở chị em phụ nữ. 

1. Tình hình bệnh ung thư
Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là ung thư thứ ba phổ biến nhất ở phụ nữ, và đứng thứ bảy trong tổng số các loại ung thư, với một ước tính khoảng 530 000 trường hợp mới trong năm 2008[1]. Hơn 85% gánh nặng toàn cầu xảy ra ở các nước đang phát triển, nơi mà nó chiếm 13% của tất cả các loại ung thư ở phụ nữ[1]. Nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu đã tìm ra nhiều nguyên nhân gây ra bệnh UTCTC như nhiễm vi rút gây u nhú ở người ( HPV- human Papillomavirus), Chlamydia trachomatisor, Herpes simplex vius-2 ( HSV-2), đẻ nhiều con, có nhiều bạn tình, xảy thai nhiều lần, nạo hút thai nhiều lần,,….


2. Nguyên nhân gây UTCTC
Nhiễm HPV đã được chứng minh như là yếu tố cần nhưng chưa phải là yếu tố đủ dẫn đến UTCTC [2]. Trong khi có hơn 140 loại HPV lây nhiễm đường sinh dục, được phân lọai theo 3 mức độ nguy cơ gây ung thư có liên quan đến UTCTC [3] bao gồm nhóm nguy cơ cao là HPV16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 68, 73, 82, nhóm nguy cơ trung bình là HPV 26, 53, 66 và nhóm nguy cơ thấp là HPV6, 11 , 40, 42, 43, 44, 54, 61, 70, 72, 81, CP6108.
Tổng hợp từ 11 nghiên cứu bệnh chứng từ chín quốc gia (trong số đó có 2 nước đang phát triển) liên quan đến 1918 phụ nữ bị UTCTC cho thấy rằng có tám loại HPV nguy cơ cao: 16, 18, 31, 33, 35, 45 và 58 xuất hiện ở 95% số trường hợp UTCTC [2]. HPV 16 phổ biến nhất chiếm 50-60% các trường hợp UTCTC. HPV18 là loại phổ biến thứ hai chiếm 10 -12% [4].
Hầu hết phụ nữ và nam giới bị nhiễm HPV một lần trong suốt cuộc đời. HPV lây truyền qua đường tình dục là loại tiếp xúc da niêm mạc [7]. HPV lây truyền cao, với tỷ lệ cao nhất ngay sau khi bắt đầu quan hệ tình dục. Theo một số nghiên cứu ở các nước đang phát triển đã nhận thấy rằng HPV có khả năng lây nhiễm từ 50- 80%, ước tính phụ nữ có hoạt động tình dục ít nhất một lần trong suốt đời [5][6]. Phụ nữ thường bị nhiễm HPV ở độ tuổi thiếu niên, 20 tuổi, hoặc khoảng 30 tuổi, tuy nhiên ở giai đoạn này các biểu hiện của nhiễm trùng thường là thoáng qua, khó phát hiện [7].
Tuy nhiên, nhiễm HPV có thể biến mất hoặc trở nên không phát hiện được trong vòng 1-2 năm. Ví dụ, trong một nghiên cứu thuần tập phụ nữ ở trường đại học có HPV âm tính, sau 3 năm có 46% bị nhiễm HPV. Sau khi theo dõi trung bình là 60 tháng, hầu hết các trường hợp nhiễm trùng HPV không tiến triển thành tổn thương cổ tử cung[8]. Một tỷ lệ nhỏ các bệnh nhiễm trùng vẫn tồn tại và có thể tiến triển thành ung thư. 
Tỷ lệ ước tính một số bệnh ung thư gây ra bởi HPV [7]như sau:
• 100% các trường hợp UTCTC.
• 90% các trường hợp ung thư hậu môn.
• 40% các trường hợp ung thư bộ phận sinh dục ngoài (âm hộ, âm đạo và dương vật).
• Ít nhất là 12% các trường hợp ung thư hầu họng.
• Ít nhất là 3% trường hợp ung thư miệng.
Trong đó, HPV tuýp 16 và 18 gây ra khoảng 70% của tất cả các UTCTC trên toàn thế giới [7].

3. Các yếu tố nguy cơ
Nhiễm HPV nguy cơ cao là phổ biến nhất trong nhóm phụ nữ trẻ, với tỷ lệ cao nhất là 25-30% ở phụ nữ dưới 25 tuổi [19].Trong khi lây nhiễm với HPV nguy cơ cao là nguyên nhân cơ bản của ung thư cổ tử cung.Hầu hết,phụ nữ bị nhiễm với một loại HPV nguy cơ cao gây ung thư cổ tử cung nhưng chưa đủ để phát triển thành bệnh UTCTC. Các yếu tố nguy cơ đóng vai trò quan trọng trong khi nhiễm HPV là tăng khả năng phát triển bệnh. Có các bằng chứng khoa học xác định các yếu tố nguy cơ có liên quan, mức độ khác nhau, với sự phát triển của UTCTC xâm lấn bao gồm: sử dụng thuốc tránh thai, hút thuốc lá, thuốc ức chế miễn dịch đặc biệt người bị HIV, nhiễm trùng với các bệnh lây truyền qua đường tình dục, và thiếu dinh dưỡng.
Tổng hợp dữ liệu từ nghiên cứu kiểm soát trường hợp bệnh ung thư cổ tử cung xâm lấn và hai nghiên cứu về ung thư biểu mô tại chỗ (CIS) từ bốn châu lục cho thấy rằng, so sánh với phụ nữ chưa từng sinh con thì những người với ba hoặc bốn lần mang thai đủ tháng có nguy cơ phát triển ung thư cổ tử cung gấp 2,6 lần và phụ nữ với bảy lần sinh hoặc hơn có nguy cơ gấp 3,8 lần so với những người chưa sinh con[9].
Hơn nữa,việc sử dụng lâu dài thuốc tránh thai cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ UTCTC: một số nghiên cứu cho thấy rằng có một mối quan hệ giữa việc sử dụng lâu dài thuốc tránh thai và sự phát triển của UTCTC. Một phân tích tổng hợp từ 10 nghiên cứu bệnh chứng, bệnh nhân mắc bệnh ung thư cổ tử cung xâm lấn hoặc CIS cho thấy rằng việc sử dụng lâu dài thuốc tránh thai có thể làm tăng nguy cơ UTCTClên gấp bốn lần ở phụ nữ bị nhiễm HPV [10].
Hút thuốc gắn liền với sự phát triển các tổn thương tiền UTCTC và ung thư[11][12]. Các nghiên cứu cho thấy những người hiện tại có hút thuốc có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung gấp ít nhất 2 lần so với người không hút thuốc [11][12][13]. Phụ nữ bị nhiễm HIV dễ dàng bị nhiễm các loại HPV và có nhiều khả năng phát triển các tổn thương tiền ung thư nhanh hơn so với phụ nữ HIV âm tính ở cùng độ tuổi [14][15][16].
Phụ nữ có nhiễm HPV và đồng thờinhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục như Chlamydia trachomatisor herpes HSV-2 thì có nhiều khả năng phát triển UTCTC hơn so với phụ nữ không phải là người đồng nhiễm. Một phân tích tổng hợp từ 7 nghiên cứu kiểm soát tác động của nhiễm HSV- 2 trong nguyên nhân của bệnh UTCTC xâm lấn, kết quả phân tích sau khi kiểm soát các yếu tố nhiễu tiềm tàng cho thấy rằng phụ nữ dương tính với HPV, HSV-2 có nguy cơ gấp khoảng ba lần trong việc phát triển UTCTC [17].
Tình trạng kinh tế - xã hội thấp được coi như là một yếu tố nguy cơ đối với nhiều vấn đề sức khỏe, bao gồm cả UTCTC. Phụ nữ với tình trạng-kinh tế-xã hội thấp thường có thu nhập hạn chế, ít được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng kém, nhận thức thấp về các vấn đề y tế và phòng ngừa hành vi nguy cơ. Tất cả những yếu tố này có thể làm cho họ dễ bị thêm bệnh tật và các bệnh như UTCTC [18].

4. Kết luận
UTCTC là bệnh có thể phòng chống được thông qua kiểm tra sàng lọc và tránh tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ cao. Các biện pháp sàng lọc và phòng chống bệnh nên tập trung vào các đối tượng có nguy cơ cao. Do đó, cộng đồng cần được trang bị kiến thức về bệnh, cách phòng chống và kiểm soát, khám sức khỏe sinh sản định kỳ 6 tháng/ lần, triển khai chương trình sàng lọc cho đối tượng nguy cơ cao, giáo dục sức khỏe cộng đồng nhằm xây dựng lối sống, hành vi tình dục lành mạnh vì sức khỏe của cá nhân và của cộng đồng.